Thứ sáu, 21/1/2022, 09h20

Tranh dân gian ngũ hổ

Tranh tết đã tr thành mt m tc đp ca dân tc, luôn th hin ưc vng v mt cuc sng thun hòa, khe mnh, hnh phúc, cùng khát khao hưng ti chân tri Chân - thin - m. Mt trong nhng tranh Tết dân gian rt đc bit đó là tranh th ngũ h thuc dòng tranh Đông H và tranh Hàng Trng. S đc bit ca tranh, bi l nó phn ánh đưc tính minh triết ca ngưi xưa xut phát t mt nn văn hóa giàu bn sc và sâu lng.


Tranh th ngũ h - Tranh dân gian Hàng Trng
 

Mi quan h gia ngưi và h

Hổ là đối tượng phổ biến của các loại hình văn hóa nghệ thuật truyền thống và hiện đại. Sức mạnh, sự hung dữ, tiếng gầm, lá gan, cái đuôi hổ… trở thành nền tảng xuất phát của nhiều câu thành ngữ, tục ngữ thâm thúy - thực sự là tinh hoa của phép xử thế và nghệ thuật… (Họa hổ, họa bì, nan họa cốt/ Tri nhân, tri diện, bất tri tâm (vẽ hổ, vẽ da, xương khó vẽ/Biết người biết mặt, biết lòng sao!). Từ xa xưa, hổ đã có quan hệ khá mật thiết với cuộc sống của loài người và những mối quan hệ đó luôn phát triển, đa dạng hóa. Hổ được nhiều dân tộc sùng bái. Người Trung Á và Đông Nga xưa thần thánh hóa con hổ. Dân rừng Taiga vùng Sibia làm lễ cúng thần hổ, lập miếu thờ hổ trên các đèo, cầu hổ ban ơn và che chở. Nhân dân các nước phương Đông hay chạm, khắc hình, đúc, đắp, nặn, tạc tượng, vẽ.

Đối với người Việt ta, con hổ trong tiếng Việt hiện đại thì có khá nhiều tên gọi: hổ, hùm, cọp, beo cùng các tên ẩn dụ: chúa sơn lâm, ông ba mươi… Người Việt với thế ứng xử và tín ngưỡng dân gian gần gũi thiên nhiên, thường thêm lên trước tên những con vật một mạo từ. Nếu là con vật thân quen thì sẽ gọi là con như con chó, con mèo… Nếu con vật đó hàm chứa một ý nghĩa tâm linh nào đó, thì người ta thường thêm lên trước tên con vật đó mạo từ Ông hay Bà (ví như: ông Voi, bà Ngựa). Cũng theo ý nghĩa thiêng hóa đó người ta hay gọi con hổ là ông Hùm. Từ hùm cũng có thể mang ý nghĩa tượng thanh như từ hầm, là phỏng theo tiếng gầm của con vật đó. Theo đó, hình tượng con hổ cũng được đi vào điêu khắc gỗ đình làng, đi vào phù điêu ở đền miếu và đặc biệt đi vào tranh dân gian như một kiểu tranh thờ mà ta hay gọi tranh thờ ngũ hổ - thể hiện sự sùng bái những mãnh lực thiên nhiên, trong khi tranh thờ hổ trong văn hóa Trung Hoa thì thể hiện sự sùng bái Thần Tài Lộc.

Tính minh triết trong tranh dân gian th Ngũ h

Như đã nói, tết xưa, các gia đình thường treo tranh thờ ngũ hổ, hay tục thờ “Ông ba mươi” một cách rất tôn kính với niềm tin rằng sẽ được sức mạnh siêu nhiên phù hộ gia trạch bình an, loại trừ tai nạn. Đã có nhiều nhà nghiên cứu văn hóa dân gian cho rằng: tục thờ này, bắt nguồn từ một cuộc sống nguyên thủy, khi con người còn sống trong điều kiện săn bắt hái lượm, thì hổ chính là sức mạnh thiên nhiên gần gũi và là tai họa đối với con người. Do đó, con người thờ hổ, được biểu thị qua nhiều hình thức: tượng, phù điêu, tranh ảnh. Theo đó, trong tranh dân gian Việt Nam có hai dòng tranh sáng tác tranh thờ ngũ hổ là Tranh Hàng Trống và Tranh Đông Hồ.

Cả hai dòng tranh này đề vẽ hình ảnh năm con hổ, được trình bày bố cục đông tây, cân đối. Điểm đặc biệt là, con hổ Hồ Vàng luôn ở vị trí trung tâm với tư thế vững chải, bản lĩnh, trấn thủ rất uy dũng và oai vệ. Lý giải về màu sắc của các chú hổ, người ta thường cho rằng: trong thiên nhiên hổ vàng đông hơn cả nên được vẽ to và ở giữa tranh: còn hổ đen và trắng là sự tả 2 loại hổ hiếm do biến dị sắc tố, còn hổ đỏ và xanh thì được giải thích là vẽ cho đẹp, cho cân đối bức tranh. Với cách giải thích này chưa được thuyết phục và chưa lý giải được tính minh triết của người xưa muốn gửi gắm trong tranh.


Tranh th ngũ h - Tranh dân gian Đông H

Thực ra, bức tranh ngũ hổ này, xuất phát từ nền tảng là học thuyết vũ trụ quan của người Việt cổ về triết lý âm dương - ngũ hành. Hổ là biểu tượng được lựa chọn để thể hiện cho sự vận động của ngũ hành, nó tượng trưng cho sức mạnh, trấn giữ ở khắp năm phương. Do vậy, người xưa đã vẽ 5 con hổ với 5 màu sắc khác nhau. Mỗi con một dáng vẻ, con thì đứng, con thì nằm, con cưỡi mây lướt gió. Khối thân chắc khỏe, những dáng ngồi, thế đứng đường bệ oai phong, đặc biệt những chiếc đuôi như đang ve vẩy hoặc uốn vồng lên để đập xuống đất mà bật chồm lên và những con mắt hổ hừng hực nội lực của loài mãnh chúa. Màu sắc trong tranh Ngũ hổ là một thế giới hòa sắc, lộng lẫy, uy linh với năm màu: xanh, đỏ, trắng, vàng, đen lối dùng màu này của các nghệ nhân Hàng Trống và Đông Hồ đã thể hiện rõ một hàm ý, mang tính triết lý sâu xa của quan niệm dân gian truyền thống. Theo đó, tương ứng 5 màu là tượng trưng cho 5 hành trong triết lý ngũ hành của người xưa.

- Hoàng hổ: Con ngồi chỉnh trệ giữa tranh được vẽ vờn bằng màu vàng, tượng trưng cho hành Thổ - ứng với trung ương chính điện.

- Thanh hổ: Con hổ được vẽ bằng màu xanh là tượng trưng cho hành Mộc, ứng với phương Đông.

- Bạch hổ: Con hổ được vẽ bằng màu trắng là hành Kim ứng với phương Tây.

- Xích hổ: con hổ được vẽ bằng màu đỏ là hành Hỏa ứng với phương Nam.

- Hắc hổ: Con hổ được vẽ bằng màu đen là hành Thủy ứng với phương Bắc.

Điều thú vị là, đối với Tranh dân gian Hàng Trống và tranh Đông Hồ, chúng ta sẽ nhận thấy sự trùng khớp so với quy luật tương sinh và tương khắc của ngũ hành.

Tranh ngũ hổ của Hàng Trống (hình 1), ứng với trị trí màu sắc của Hổ, theo chiều kim đồng hồ sẽ ứng với ngũ hành tương sinh; bắt đầu từ hổ trắng - Kim -> sinh Thủy (hổ đen) sinh -> Mộc (hổ xanh) sinh -> Hỏa (hổ đỏ) sinh -> Thổ (hổ vàng ở giữa).

Và tranh ngũ hổ của Đông Hồ (hình 2), ứng với trị trí màu sắc của hổ theo ngược chiều kim đồng hồ sẽ ứng với ngũ hành tương khắc (hình 2): Bắt đầu từ hổ đen - hành Thủy khắc Hỏa (Hổ đỏ) -> khắc Kim (hổ trắng) -> khắc Mộc (hổ xanh) -> khắc Thổ (hổ vàng trung tâm).

Chính sự tương tác vận động của ngũ hành tương sinh - tương khắc sẽ tạo nên sự hiện hữu, sự khởi nguyên của vũ trụ, mở ra một ngày mới, một năm mới, một chân trời mới. Phải chăng đó chính là thông điệp, sự minh triết từ quá khứ, người xưa muốn gửi gắm, cầu chúc sự khởi đầu cho một năm mới tràn đầy năng lượng, sức mạnh tinh thông, bản lĩnh, phát triển thịnh vượng và chính hổ là “sứ giả” được lựa chọn trong dòng tranh thờ dân gian vào dịp lễ Tết.

ThS. Nguyn Hiếu Tín